
Đọc hiểu Thơ Hai cư
Đọc hiểu Thơ Hai cư
Mùa xuân đến rồi
vô danh ngọn đồi ấy
sáng nay khoác áo sương mù
Quả thật, hơi xuân đã chạm vào thiên nhiên, chạm vào niềm bất tri da diết, chạm vào hồn tôi chút tri ngộ lang thang. Lòng nao nao hồi vọng :
Ngày đầu xuân
sao mà tôi nhớ
chiều thu cô đơn
Có phải có một chút thu đã vượt qua đêm đông đến tiềm hiện trong mùa xuân ? Chất hai-cư trầm lặng đến suy tư đã khắc hoạ được hồn vía của giao cảm mùa. Chính vì thế mà trong cái chớm rét cũng chớm hiện một làn hương :
Cây hoa nào
mà ta chưa biết
gửi lại một làn hương
Thật bất ngờ, trong khí tiết xung hàn của ngày đông, Ba-sô đã cho chúng ta nhận ra sự đồng điệu của thiên nhiên và con người khi đạt tới cái tâm hư không và trong lặng. Ví dụ như mùa xuân kia là một phần bản thể của vũ trụ, xoay chuyển và hình thành :
Thế rồi từ từ
mùa xuân thành tựu
với trăng và hoa
Và chúng ta hãy lắng nghe :
Tiếng chuông chùa tan
hương hoa đào buổi tối
như còn ngân vang
Tôi kính cẩn cúi xuống trước những bài hai-cư của Ba-sô, nghe một niềm tịch lặng dâng lên, gắn kết sự huyền nhiệm của tâm hồn bao la. Tâm hồn ấy chính là âm thanh lắng mọi âm thanh có công năng rũ bỏ ưu phiền trần tục :
Trên bình nguyên
chim vân tước hót
xa mọi ưu phiền
Ôi ! Tiếng vân tước vĩ đại mở ra một thiên nhiên tuyệt bút trong thơ Ba-sô “Một con người đã sống và dạy chúng ta sống bằng chính sự sống…” (Lời của Blyth).
Thuở đó, một thương gia giàu có ngưỡng mộ Ba-sô, đã xây cho thi hào một ngôi nhà bên dòng sông Sumida. Bên nhà có một cây chuối do học trò trồng. ở Nhật, cây chuối không có trái. Người Nhật gọi nó là Ba tiêu. Ba tiêu chính là Ba-sô. Từ đó bút hiệu Cây Chuối đã mãi mãi đi vào lịch sử văn học của thế giới.
Năm 37 tuổi, Ba-sô viết bài thơ về con quạ :
Trên tiều tuỵ cành
bóng quạ
rũ chiều thu
Bài thơ hai-cư đơn sơ đến cực độ mà cũng sâu thẳm tột cùng. Bóng quạ giữa chiều thu cô đơn vô biên ấy đã cuốn hút ta vào thế giới u huyền. Sự mênh mông cô tịch của hoàng hôn và cái bóng quạ đen nhỏ ấy đã đậu vào cái vĩnh cửu của vô thường !
Với bài thơ con quạ, Ba-sô đã thật sự lên đường.
Con đường của Ba-sô dẫn thi hào đến những cuộc hành hương bất tận trên đất nước Phù Tang. Ba-sô sống rất đơn sơ và hoà điệu với thiên nhiên để tìm ra một con đường khác : con đường đi vào cõi thâm áo !
Vì vậy đã ba thế kỉ trôi qua, thơ Ba-sô vẫn còn là hiện tại, một hiện tại vĩnh cửu của thơ.
Ba-sô cũng như Nguyễn Du, đều là tiêu biểu cho thơ ca của dân tộc mình. Ba-sô mất tại Ô-sa-ka ngày 12 – 10 – 1694, được chôn cất trong ngôi đền gần Vô danh am ở Otsu, nhìn xuống hồ Bi-oa mà thi sĩ hằng yêu mến :
Người chèo thuyền
ống điếu ngậm trong miệng
gió mùa xuân lên
Ôi ! ngọn gió mùa xuân thổi xuyên qua mọi thời đại, thổi vào hồn tôi một thoáng ấm áp bâng khuâng trong thơ xuân của người thi sĩ vĩ đại.
Còn đây :
Ta khóc
mùa xuân ra đi
cùng với những người Omi
Cảm giác than tiếc mùa xuân ngự trị trên muôn loài, bài thơ lững lờ như con nước không một giọt thừa ; ngôn ngoại hành tàng đi biền biệt cốt nói lên cảm thức thời gian, cảm thức tâm linh mà người sử dụng thiền quán có được.
Vậy đó, Ba-sô sống trong mối tương hoà thật sự với thiên nhiên. Và mùa xuân biểu hiện trong thơ ông mãi mãi bất tận.
(Theo Nguyễn Tuấn Nhã, Kiến thức ngày nay, xuân 2004)

