
Đọc hiểu Thơ Hai cư
Đọc hiểu Thơ Hai cư
Không nói nhiều mà gợi rất sâu, gợi những tình cảm sâu thẳm nhất nơi đáy sâu tâm hồn con người là đặc điểm của thơ hai-cư. Và đây là bài thơ tiêu biểu.
5. Bài thơ này Ba-sô sáng tác khi du hành ngang qua một cánh rừng, ông thấy một chú khỉ nhỏ đang lạnh run lên trong cơn mưa mùa đông. Nhà thơ tưởng tượng thấy chú khỉ đang thầm ước có một chiếc áo tơi để che mưa, che lạnh.
Hình ảnh chú khỉ đơn độc trong bài thơ gợi lên hình ảnh người nông dân Nhật Bản, gợi hình ảnh những em bé nghèo đang rét co ro. Bài thơ thể hiện tình thương yêu sâu sắc của nhà thơ đối với những kiếp người nghèo khổ. Chú khỉ đã được nhân hoá để nói về suy nghĩ và ước mơ của con người về một cuộc sống hạnh phúc. Chỉ dùng một chi tiết thật nhỏ nhưng nhà thơ đã nói được một vấn đề thật lớn, đó là khát vọng về một cuộc sống tốt đẹp hơn.
Bài thơ đã khái quát hoá một vấn đề rất lớn và rất phổ biến của nhân sinh, đó là khao khát, là ước mơ. Con người luôn khao khát và ước mơ về một cuộc sống đủ đầy, hạnh phúc hơn. Những ước mơ rất đỗi giản dị, như chú khỉ ước có được chiếc áo tơi trong cơn mưa đông. Chỉ một hình ảnh, một biện pháp tu từ nhân hoá mà nhà thơ đã nói lên điều mà bao nhiêu người đều muốn nói, đó là ước muốn có một cuộc sống bình ổn, hạnh phúc. Giữa những phút giây bề bộn của cuộc sống, con người luôn hướng đến những điều tốt đẹp hơn. Và điều đó khiến cho xã hội loài người ngày càng phát triển.
6. Bài thơ này miêu tả cảnh mùa xuân. Quanh hồ Bi-oa có trồng rất nhiều hoa anh đào. Mỗi khi gió thổi, cánh hoa anh đào lại rụng lả tả như mây. Cánh hoa hồng nhạt, mong manh rụng xuống mặt hồ làm cho mặt hồ gợn sóng. Cảnh tượng ấy thể hiện sự tương giao của các vật trong vũ trụ. Triết lí sâu xa nhưng lại được thể hiện bằng những hình tượng giản dị, nhẹ nhàng. Đó chính là cảm thức thẩm mĩ của bài thơ.
Chỉ với ba dòng thơ ngắn nhưng bài thơ đã tạo nên một bức hoạ thật sinh động. Vạn vật giao hoà, cánh hoa và sóng nước được kết hợp với nhau thật nhẹ nhàng và tinh tế. Hoa đẹp, hồ nên thơ. Những cánh hoa mỏng manh hoà hợp với những con sóng gợn nhẹ trên mặt hồ. Một bức tranh thật thanh thoát. Triết lí nhân sinh của bài thơ nằm trong sự hoà hợp ấy. Mọi sự vật trong thế giới này đều có một mối tương giao với nhau. Với ngôn từ giàu hình ảnh, nhà thơ đã thể hiện một cách nhẹ nhàng mà sâu sắc sự hoà hợp rất triết học của tự nhiên.
7. Bài thơ ra đời trong một lần Ba-sô leo lên núi đá để thăm chính điện chùa Riu-sa-ku-ji. Tiếng ve là thanh, đá là vật. Nhưng trong cảnh u tịch, vắng lặng của chiều tà, khi tất cả đều im ắng hết lại có thể nghe được tiếng ve rền rĩ như nhiễm vào, như thấm vào đá. Liên hệ đó độc đáo, kì lạ mà không hề khoa trương.
Ngôn từ của bài thơ đậm đà chất hai-cư. Ngay dòng thơ mở đầu đã là cái không khí rất thâm trầm, rất phương Đông :
Vắng lặng u trầm
thấm sâu vào đá
tiếng ve ngâm.
Chỉ một câu với nghệ thuật đảo trật tự cú pháp, nhà thơ đã nói lên được sự tương giao màu nhiệm giữa thiên thiên với thiên nhiên. Và trên hết, để có được điều đó phải có sự tương giao màu nhiệm giữa tâm hồn nhà thơ và vũ trụ nhân sinh. “Vắng lặng u trầm” là nhóm tính từ chỉ trạng thái của “tiếng ve ngâm thấm sâu vào đá”. Đảo trật tự cú pháp của câu thơ là một biện pháp nghệ thuật quan trọng của bài thơ. Thơ hai-cư đề cao tính chất hàm súc của ngôn từ. Vì thế các nhà thơ thường chú ý tạo nên những hình ảnh có sức gợi lớn. ở bài thơ này, chỉ cần một âm thanh của tiếng ve ngâm, tác giả đã gợi nên khung cảnh mùa hè. Nhưng đây là mùa hè được cảm nhận bằng những giác quan của một con người thâm trầm. Người ngắm cảnh như nghiêng mình trước buổi chiều yên ắng để lắng nghe, để chiêm nghiệm, để hoà hợp tâm hồn mình cùng những biến thái, những chuyển động rất tinh vi của tự nhiên. Vốn ưa cái thâm trầm, các nhà thơ hai-cư thường tạo nên chất thâm trầm cho thơ của mình. Thâm trầm vốn là bản chất của vũ trụ. Rất nhẹ nhàng nhưng có một sức tác động mạnh mẽ, mọi vật tồn tại trong thế giới này đều lặng lẽ hoà hợp với nhau, tạo nên sự bền vững cho thế giới.
8. Bài thơ này viết ở Ô-sa-ka (năm 1694). Đây là bài thơ từ thế của Ba-sô. Trước đó, ông đã thấy mình yếu lắm rồi, như một cánh chim sắp sửa bay khuất vào chân trời vô tận.
Nằm bệnh giữa cuộc lãng du
mộng hồn còn phiêu bạt
những cánh đồng hoang vu.
Cuộc đời Ba-sô là cuộc đời lang thang phiêu bồng, lãng du. Vì thế ngay cả khi sắp từ giã cõi đời, ông vẫn còn lưu luyến lắm, vẫn còn muốn tiếp tục cuộc đi – đi bằng hồn mình. Và ta lại như thấy hồn Ba-sô lang thang trên khắp những cánh đồng hoang vu. Vẫn tha thiết, ước mong được đi đến mọi miền của quê hương để được ngắm nhìn, được tìm hiểu và chiêm nghiệm cuộc đời. Thế nhưng bệnh tật đã buộc nhà thơ phải ở một chỗ. Thân xác phải ở một nơi nhưng tâm hồn vẫn phiêu bồng với những ước mơ thật lớn. Khát vọng được sống luôn đốt cháy tâm can và tấm lòng yêu đời, tha thiết sống của thi nhân đã được thể hiện trọn vẹn, nồng nàn trong một câu thơ đầy trăn trở, khao khát.
Tình yêu cuộc sống là tình yêu quê hương đất nước, tình yêu con người và đó là giá trị nhân sinh trong thơ của Ba-sô. Thơ hai-cư của Ba-sô súc tích, giàu hình ảnh nên tạo được những ấn tượng khó phai trong lòng người đọc. Chỉ một hình ảnh đơn giản của cuộc sống nhưng chứa đựng những ý nghĩa nhân sinh sâu sắc, thơ hai-cư đòi hỏi người đọc phải đến với nó không chỉ bằng trái tim, khối óc mà bằng cả trí tưởng tượng và cả trực giác của người biết cảm thụ nghệ thuật.
B. Chùm thơ thứ hai
1. Đọc bài thơ, có thể thấy : ý thơ hai-cư không thể hiện trên bề mặt câu chữ mà người đọc phải tự cảm nhận và giải thích.
Trên cành khô
chim quạ đậu
chiều thu
“Cành khô”, “chim quạ” là những nét chấm phá thuỷ mặc để gợi tả một “chiều thu” u buồn sâu thẳm, vắng lặng đến cô tịch. Không có một cái tâm tĩnh, trong sáng và tình yêu cuộc sống, thiết tha với thiên nhiên, tạo vật sẽ không thể kết đọng được những hình ảnh đẹp đẽ, gợi cảm đến thế. Đọc bài thơ, mới hiểu thế nào là chất sa-bi đơn sơ, tao nhã, cô liêu, trầm lắng, u buồn, nhưng không chán chường hay bi luỵ, oán đời.
2. Bài thơ :
Hoa đào như áng mây xa
chuông đền U-ê-nô vang vọng
hay đền A-sa-cư-sa
Hình ảnh hoa đào tượng trưng cho mùa xuân. Hoa đào nở rộ kết thành những mảng sắc hồng nhạt, nhẹ nhàng, thanh thoát như áng mây xa. Tiếng chuông vang vọng báo hiệu hoàng hôn đến, nó vang vọng và mơ hồ tạo cảm giác bâng khuâng, chay tịnh thú vị. Tiếng chuông vô định hoà cùng sắc hoa đào mây xa tạo nên ấn tượng về cái nhạt, cái không.
3. Bài thơ :
Cây chuối trong gió thu
tiếng mưa rơi tí tách vào chậu
ta nghe tiếng đêm
Thực ra, không có tiếng đêm mà chỉ có tiếng của tạo vật vọng trong đêm. Tiếng đêm được gợi tả từ tiếng gió thu (nói Cây chuối trong gió thu là muốn gợi tả tiếng gió thu hay là để chuẩn bị cho sự rơi của giọt mưa vào chậu ? !), tiếng mưa rơi tí tách vào chậu. Phải ở trạng thái cực tĩnh, thính giác cực nhạy và một tâm trạng u buồn, một sắc u buồn rất trong thì mới có thể cảm nhận tiếng đêm như thế.
4. Bài thơ :
Gần xa đâu đây
nghe tiếng thác chảy
lá non tràn đầy
Thác chảy – biểu tượng cho sự vận động liên tục, biểu hiện của một thế giới vận động mà các yếu tố trong nó thay đổi không ngừng, trong khi hình thức bên ngoài không thay đổi. Lá non tràn đầy nghĩa là sự sống đang vận động sinh sôi. Tiếng thác chảy hay là âm thanh của quá trình sinh sôi tươi mới, không ngừng ấy !
5. Bài thơ :
Dưới mưa xuân lất phất
áo tơi và ô
cùng đi
“áo tơi và ô” thực ra là hình ảnh nhắc gợi về con người trong bức tranh xuân. Chỉ thấy áo tơi và ô, không thấy con người, vậy con người đâu ? Con người đang hoà vào xuân, cùng đi với mùa xuân, trong mưa xuân lất phất. Những con người đang “tàng hình” vào xuân.
6. Bài thơ :
Hoa xuân nở tràn
bên lầu du nữ
mua sắm đai lưng
Hoa xuân tưng bừng tạo nên sắc xuân ngự trị khắp nơi nơi, thúc giục lòng người. Chỉ với nét chấm phá về độ tràn ngợp của hoa xuân và niềm vui của các cô gái, cũng đủ thấy con người và thiên nhiên đang làm nên thần thái bức tranh xuân sáng tươi, giàu sức sống.
Thơ hai-cư với thơ tuyệt cú Trung Quốc gần gũi với nhau ở tính ngắn gọn, cô đọng, hàm súc của hình ảnh thơ. Bút pháp chấm phá thuỷ mặc, lấy có tả không, lấy không tả có, vô thanh thắng hữu thanh,… của thơ Đường, nhất là ở thơ tuyệt cú, cũng được sử dụng trong thơ hai-cư. Tất nhiên, tính chất cực ngắn cộng với cách thể hiện, sự rung động nhạy cảm đậm chất Nhật Bản sẽ khiến các thủ pháp này tạo nên nguyên tắc thẩm mĩ riêng trong thơ hai-cư. Gần gũi, hoà hợp thậm chí đến mức “tuyệt đối” đến vô cực là đặc điểm dễ thấy về mối quan hệ giữa thiên nhiên và con người trong các bài thơ của Ba-sô và Bu-son. Nhật Bản là một đất nước có trạng thái thiên nhiên luôn thay đổi. Đặc điểm này có ảnh hưởng rất lớn đến khí chất, cảm quan và tình cảm của người Nhật. Người Nhật tin vào mối quan hệ đặc biệt giữa con người với thiên nhiên ; họ sống chan hoà với thiên nhiên, cây cỏ, hấp thụ sức sống, sinh khí chan chứa trong chúng.
III – Liên hệ
Bên dòng Đạ Dâng hoang dại ngồi viết thơ xuân.

