Old school Swatch Watches
Phong trào thơ mới ở Việt Nam

Phong trào thơ mới ở Việt Nam

Đánh giá: 7/10

Phong trào thơ mới ở Việt Nam


            Thơ Thế Lữ diễn tả nỗi buồn. Thế Lữ đưa vào thơ Việt Nam cái buồn vô cớ, cái buồn thi vị, lúc đó cái buồn đang là cái mốt. Cái buồn trở thành một thứ trang sức của trí thức tiểu tư sản. Cái buồn bàn bạc khắp nơi, cả trong giấc mộng, trong cảnh tiên:


Tiếng đưa hiu hắt bên sông


Buồn ơi xa vắng mênh mông là buồn…


(Tiếng sáo thiên thai)


            Thơ mới nói chung là buồn. Cái buồn nhiều khi lẫn lộn với cái bi quan yếu đuối. Xưa, nay những áng thơ hay trong quá khứ hầu hết là buồn: Thơ Cung oán ngâm khúc, Chinh phụ ngâm, Truyện Kiều… đều buồn. Những câu ca dao hay nhất là những câu buồn. Nhà phê bình văn học Bielinxki: cái buồn chính là làm nên sự hấp dẫn của thơ ca…


            Bi quan là buồn, nhưng buồn không nhất thiết là bi quan. Cuộc đời có lúc vui, lúc buồn, trước kia cũng thế và bây giờ cũng thế, chỉ có tỉ lệ thay đổi. Trước sự hi sinh của đồng bào, đồng chí không thể không buồn. Nếu bi quan thì không tin vào một cái gì, chán nản, từ  bỏ sự sống, bàng quang trước sự phải trái, đúng sai, tốt xấu, không thiết tha với bất cứ cái gì.


            Cái buồn cũng có năm bảy đường, cái buồn của Thế Lữ là cái buồn mệt mỏi bất lực. Cái buồn Xa vắng mênh mông, nước lặng mây ngừng chưa phải là cái buồn thê thảm hãi hùng như sau này.  


2.      Thời kì 1936-1939:


Thời kì này xuất hiện nhà thơ Xuân Diệu trường hợp mới nhất trong các nhà thơ mới (thi nhân Việt Nam). Xuân Diệu xuất hiện chiếm hẳn dịa vị độc tôn trên thi đàn. Tiếng thơ của Xuân Diệu như luồng gió mát thổi tâm hồn trẻ: Xuân Diệu là nhà thơ đầu tiên của Việt Nam đã áp dụng thuyết hiện sinh vào thi ca (Nguyễn Tấn Long-Việt Nam thi nhân tiền chiến).


            Xuân Diệu vừa xuất hiện gây dư luận sôi nổi. Phái thơ cũ coi là khả ố cần phải tiêu diệt vì nó quá sỗ sàng trắng trợn. Người ta chê nào là ngây ngô nào là tây quá thơ đâu lại có thứ thơ quái gỡ như vậy. Người ta đả kích cái tư tưởng kém lành mạnh.


            Xuân Diệu làm thơ quá mới mẻ đối với nền học thuật Việt Nam từ trưóc đến nay. Tư tưởng của ông thường quá táo bạo không ngại ngùng e dè, chỉ thích nói lên những gì mình cần nóiï mà thôi.


            Trong bầu không khí sôi nổi giữa tân và cựu, Hoài Thanh thoạt tiên cũng có vẻ hoài nghi đối với sự xuất hiện của Xuân Diệu song Hoài Thanh cũng khẳng định được vị trí của Xuân Diệu trong văn đàn thi ca: ngay lời văn Xuân Diệu cũng có vẻ chơi vơi, Xuân Diệu viết tựa trẻ con học nói, hay nười ngoại quốc mới võ vẽ tiếng Nam. Câu văn tuồng bỡ ngỡ ấy chính là Xuân Diệu hơn người. Dòng tư tưởng quá sôi nổi, không thể đi theo đường có sẵn. Ý văn xô đẩy, khiến câu văn phải lung lay.


            Nhà phê bình Hoài Thanh một lần nữa khẳng định vững chắc chỗ đứng của Xuân Diệu trong phong trào thơ mới: Thơ Xuân Diệu chẳng những diễn đạt cái tình cố hữu của nòi giống. Và chăng tinh thần một nòi giống có cần gì phải bất di bất dịch. Sao lại bắt ngày mai phải giống hệt ngày hôm qua? Thơ Xuân Diệu còn là một nguồn sống rào rạt chưa từng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này.


            Nhà văn Vũ Ngọc Phan nhận xét về thơ Xuân Diệu: Bây giờ người ta đã hiểu thơ Xuân Diệu. Người ta thấy thơ Xuân Diệu đằm thắm, nồng nàn nhất trong tất cả thơ mới. Cả ý lẫn lời đều tha thiết, làm cho người thanh niên ngây ngất.


            _ Thời kì này xuất hiện nhà thơ Nguyễn Bính: nhà thơ chân quê


            _ Huy Cận: dồn cả cái buồn thời đại vào thơ… (Hoài Thanh) 


3.      Thời kì 1940- 1942:


            _ Do đại chiến thế giới lần hai, xã hội Việt Nam bước vào những năm khủng hoảng tột độ. Văn học công khai diễn ra hỗn loạn. Cái Tôi trong thơ mới rút đến sợi tơ cuối cùng. Mỗi nhà thơ thoát li một cách, và càng thoát li lại càng lạc lối. Từ 1940 về sau thơ mới càng đi xa con đường đấu tranh cách mạng. 


                        _ Thơ mới lắm xu hướng, nhiều màu sắc đều là nhiều hình thức khác nhau của sự khủng hoảng.


                                    + Nhóm Dạ Ðài: Vũ Hoàng Chương, Trần Dần, Ðinh Hùng


                                    + Nhóm Xuân Thu Nhã Tập: một lối thơ khó hiểu (Hũ nút, tắc tị), gồm các thành viên: nhà thơ Nguyễn Xuân Sách, nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát, Nguyễn Ðỗ Cung, Phạm Văn Hạnh, Nguyễn Lương Ngọc, Ðoàn Phú Tứ


                                    + Xu hướng thoát li siêu thoát triết lí thần bí tiêu biểu là Huy Cận với Vũ trụ ca, Kinh cầu tự, Chế Lan Viên với Vầng sao





III. NGHỆ THUẬT CỦA PHONG TRÀO THƠ MỚI LÃNG MẠN




            1.   Kế thừa truyền thống thơ cổ điển:


                        _ Kế thừa truyền thống thơ Ðường: bằng , trắc, đối ý, đối chữ. Ðặc biệt kế thừa lối thơ Cổ phong.


                        _ Thể thơ lục bát được nâng niu. Nhà thơ Huy Cận, Nguyễn Bính mang đến cho lục bát một khuôn khổ mới


            2.   Sự cách tân:        


                        _ Cách tân về gieo vần


                                    + Loại vần liên tiếp:


                                                Sông Hồng ôm ấp nóc nhà tranh


                                                  Trên con đường viền trắng mép đồi xanh…


                                    + Vần ôm nhau:


                                                Lặng lẽ trên đường lá rụng mưa bay.


                                                   Như khêu gợi nỗi nhớ nhung thương tiếc


                                                   Những cảnh với những người đã chết


                                                   Tự bao giờ còn phảng phất đâu đây


                                    + Vần gián cách:


                                                Gió man mác bờ tre rung tiếng sẻ


                                                   Trời hồng hồng đáy nước lắng son mây


                                                   Làn khói xám từ nóc nhà lặng lẽ


                                                   Vươn mình lên như tỉnh giấc mê say                                                         


   + Vần hỗn hợp


                                    + Vần lưng:


                                                Buồn gieo theo gió veo hồ


                                                   Ðèo cao quán chật bến đò lau thưa                                  


   _ Sự cách tân về nhạc điệu:     


+ Cách phối âm đặc biệt là phụ âm vang: âm a, an, ang, ưng, …


+ Thơ mới thường nghiêng về thanh bằng


+ Thơ mới vận dụng lối ngắt nhưng linh hoạt, độc đáo 4/1/2:


      Ðàn ghê như nước/lạnh/trời ơi! (Nguyệt cầm-Xuân Diệu)


            3. Các nhà thơ mới vận dụng thủ pháp tu từ:


                        _ Giàu hình tượng, gợi cảm.


                        _ Lối nhân cách hóa.


                        _ Lối ví von.


            4. Những phong cách trong phương pháp sáng tác lãng mạn chủ nghĩa:


Tuy cùng chung một phương pháp sáng tác song các nhà thơ mới mỗi người có một phong cách sáng tác khác nhau.