Pair of Vintage Old School Fru
Đọc hiểu Thơ Hai cư

Đọc hiểu Thơ Hai cư

Đánh giá: 7/10

Đọc hiểu Thơ Hai cư

Tiếng rì rầm chảy quanh những ngọn đồi không tên của làng Sê-nhắc im lìm. Mặt trời trốn đâu mất ở phía sau cái lạnh vào mùa. Sương mù như chiếc áo khoác, phủ lên ruộng vườn một màu trắng bàng hoàng của sớm mai. Tôi chợt nhớ đến mùa xuân trong thơ Ba-sô :


Mùa xuân đến rồi


vô danh ngọn đồi ấy


sáng nay khoác áo sương mù


Quả thật, hơi xuân đã chạm vào thiên nhiên, chạm vào niềm bất tri da diết, chạm vào hồn tôi chút tri ngộ lang thang. Lòng nao nao hồi vọng :


Ngày đầu xuân


sao mà tôi nhớ


chiều thu cô đơn


Có phải có một chút thu đã vượt qua đêm đông đến tiềm hiện trong mùa xuân ? Chất hai-cư trầm lặng đến suy tư đã khắc hoạ được hồn vía của giao cảm mùa. Chính vì thế mà trong cái chớm rét cũng chớm hiện một làn hương :


Cây hoa nào


mà ta chưa biết


gửi lại một làn hương


Thật bất ngờ, trong khí tiết xung hàn của ngày đông, Ba-sô đã cho chúng ta nhận ra sự đồng điệu của thiên nhiên và con người khi đạt tới cái tâm hư không và trong lặng. Ví dụ như mùa xuân kia là một phần bản thể của vũ trụ, xoay chuyển và hình thành :


Thế rồi từ từ


mùa xuân thành tựu


với trăng và hoa


Và chúng ta hãy lắng nghe :


Tiếng chuông chùa tan


hương hoa đào buổi tối


như còn ngân vang


Tôi kính cẩn cúi xuống trước những bài hai-cư của Ba-sô, nghe một niềm tịch lặng dâng lên, gắn kết sự huyền nhiệm của tâm hồn bao la. Tâm hồn ấy chính là âm thanh lắng mọi âm thanh có công năng rũ bỏ ưu phiền trần tục :


Trên bình nguyên


chim vân tước hót


xa mọi ưu phiền


Ôi ! Tiếng vân tước vĩ đại mở ra một thiên nhiên tuyệt bút trong thơ Ba-sô “Một con người đã sống và dạy chúng ta sống bằng chính sự sống…” (Lời của Blyth).


Thuở đó, một thương gia giàu có ngưỡng mộ Ba-sô, đã xây cho thi hào một ngôi nhà bên dòng sông Sumida. Bên nhà có một cây chuối do học trò trồng. ở Nhật, cây chuối không có trái. Người Nhật gọi nó là Ba tiêu. Ba tiêu chính là Ba-sô. Từ đó bút hiệu Cây Chuối đã mãi mãi đi vào lịch sử văn học của thế giới.


Năm 37 tuổi, Ba-sô viết bài thơ về con quạ :


Trên tiều tuỵ cành


bóng quạ


rũ chiều thu


Bài thơ hai-cư đơn sơ đến cực độ mà cũng sâu thẳm tột cùng. Bóng quạ giữa chiều thu cô đơn vô biên ấy đã cuốn hút ta vào thế giới u huyền. Sự mênh mông cô tịch của hoàng hôn và cái bóng quạ đen nhỏ ấy đã đậu vào cái vĩnh cửu của vô thường !


Với bài thơ con quạ, Ba-sô đã thật sự lên đường.


Con đường của Ba-sô dẫn thi hào đến những cuộc hành hương bất tận trên đất nước Phù Tang. Ba-sô sống rất đơn sơ và hoà điệu với thiên nhiên để tìm ra một con đường khác : con đường đi vào cõi thâm áo !


Vì vậy đã ba thế kỉ trôi qua, thơ Ba-sô vẫn còn là hiện tại, một hiện tại vĩnh cửu của thơ.


Ba-sô cũng như Nguyễn Du, đều là tiêu biểu cho thơ ca của dân tộc mình. Ba-sô mất tại Ô-sa-ka ngày 12 – 10 – 1694, được chôn cất trong ngôi đền gần Vô danh am ở Otsu, nhìn xuống hồ Bi-oa mà thi sĩ hằng yêu mến :


Người chèo thuyền


ống điếu ngậm trong miệng


gió mùa xuân lên


Ôi ! ngọn gió mùa xuân thổi xuyên qua mọi thời đại, thổi vào hồn tôi một thoáng ấm áp bâng khuâng trong thơ xuân của người thi sĩ vĩ đại.


Còn đây :


Ta khóc


mùa xuân ra đi


cùng với những người Omi


Cảm giác than tiếc mùa xuân ngự trị trên muôn loài, bài thơ lững lờ như con nước không một giọt thừa ; ngôn ngoại hành tàng đi biền biệt cốt nói lên cảm thức thời gian, cảm thức tâm linh mà người sử dụng thiền quán có được.


Vậy đó, Ba-sô sống trong mối tương hoà thật sự với thiên nhiên. Và mùa xuân biểu hiện trong thơ ông mãi mãi bất tận.


 (Theo Nguyễn Tuấn Nhã, Kiến thức ngày nay, xuân 2004)