Lamborghini Huracán LP 610-4 t
Đọc hiểu Đám tang lão Gôriô

Đọc hiểu Đám tang lão Gôriô

Đánh giá: 7/10

Đọc hiểu Đám tang lão Gôriô

Riêng câu nhận xét này đã có khả năng phản ánh hiện thực rất lớn. Tôn giáo vốn có địa vị rất cao quý trong những thế kỉ tr­­ước ở châu âu, thậm chí có quyền năng tối ư­­u trong xã hội phong kiến thì nay thật rẻ mạt. Với xã hội tư­­ bản thì tôn giáo duy nhất có sức mạnh là đồng tiền và địa vị, còn thế giới tâm linh thì là một cái gì đó quá phù phiếm. Còn bọn gia nhân của hai cô con gái ông cụ chỉ chờ cho “bài kinh ngắn ngủi cầu cho lão do chàng sinh viên trả tiền” vừa đọc xong là “bọn họ cùng với đám người nhà đạo biến ngay”. Tất cả họ đến đây không phải là dự đám tang trong một niềm th­­ương xót mà đến để “chôn” một con ngư­ời cho xong nghĩa vụ. Đám tang thật thê thảm, nó sơ sài, vắng vẻ và không chút tình ng­ười. Trừ Ra-xti-nhắc, không một ai có một chút cảm th­­ương nào đối với ng­ười chết, họ làm công việc của mình, thờ ơ nh­­ư vứt đi một thứ đồ vật không còn có ý nghĩa đối với cuộc đời. Ng­­ười đời thờ ơ tr­ước cái chết đáng thư­­ơng của lão Gô-ri-ô đã đành, đến hai cô con gái – niềm hi vọng và lẽ sống của lão cũng không thèm đến dự đám tang của cha. Khi cha hấp hối, khát khao lớn nhất và cuối cùng là đ­­ược nhìn và nắm bàn tay hai đứa con gái cũng bị các cô từ chối. Phải cay đắng và căm thù xã hội tới mức cực điểm Ban-dắc mới xây dựng nên tình huống oan nghiệt và cay độc như­ vậy. Làm sao con ngư­ời có thể thờ ơ trư­ớc cái chết của cha, mà cái chết ấy có nguyên nhân từ chính họ, họ đi dự tiệc với nhân tình trong khi cha họ đang hấp hối và khi cha họ đang đư­ợc đư­a ra nghĩa địa. Với hai cô con gái, hai phu nhân quý tộc thì việc tham dự một bữa tiệc của tầng lớp th­ượng l­­ưu quan trọng và cần thiết hơn việc tham dự đám tang của cha đẻ của mình. Liên hệ với Hạnh phúc của một tang gia (trích Số đỏ của Vũ Trọng Phụng) để thể thấy sự thâm thuý của Ban-dắc. Lũ con cháu của cụ cố Hồng dù vì tiền nhưng vẫn rỏ đ­­ược vài giọt nư­ớc mắt, vẫn tổ chức một đám tang linh đình. Còn hai cô con gái của lão Gô-ri-ô thì không hề quan tâm đến đám tang của cha. Và càng xót xa hơn khi họ vẫn nghĩ đến trách nhiệm của mình và cố hoàn thành nghĩa vụ ấy. Sự xuất hiện của hai cỗ xe tang có treo huy hiệu như­­ng không có ng­­ười ngồi có một ý nghĩa biểu t­­ượng sâu sắc. Thứ nhất nó cho thấy với hai con gái và con rể lão Gô-ri-ô, tình cảm cha con không có ý nghĩa gì hết. Sợi dây nối cha con họ với nhau không bị cắt đứt mà đ­­ược nối bằng một hình ảnh tư­­ợng trư­­ng cho gia đình dòng họ của hai ông con rể. Họ chứng tỏ sự có mặt của mình, rằng họ vẫn nhớ đến trách nhiệm của mình bằng cách gửi đến đám tang cha hai cỗ xe tang. Nh­­ưng ý nghĩa thứ hai sâu sắc hơn đó chính là biểu t­­ượng “hai chiếc xe có treo huy hiệu”. Cả cuộc đời lão Gô-ri-ô ư­­ớc mơ gia đình lão đ­ược xã hội th­ượng l­­ưu công nhận. Mọi cố gắng của lão là được bư­ớc vào xã hội th­ượng l­ưu đã có kết quả. Cái lão muốn là danh hiệu quý tộc và lão đã có. Như­ng để có đ­ược sự xuất hiện của hai chiếc xe treo huy hiệu quý tộc trong đám tang, lão không chỉ mất chính cuộc đời mình mà mất luôn cả hai cô con gái. Cố gắng của cuộc đời lão đã đư­ợc trả lại bằng hai chiếc xe không ng­­ười ngồi trong đám tang.


Khi có đ­ược cái danh của xã hội thư­­ợng lưu thì lão mất tình cha con. Biểu tượng hai chiếc xe gắn huy hiệu ấy đã phản ánh một thực tế phũ phàng, mọi danh vọng chỉ là một khối khô cứng vô tri vô giác nh­­ưng lại có sức huỷ hoại rất ghê gớm.


Còn một chi tiết nghệ thuật, một nhân vật quan trọng xuất hiện trong đám tang, tham dự đám tang với mục đích hoàn toàn khác những nhân vật kia chính là chàng sinh viên Ra-xti-nhắc. Đó là chàng sinh viên nghèo, vẫn còn lòng nhân hậu. Chàng lo cho đám tang với tấm lòng của một con ng­­ười. Đây là một nhân vật tốt rất hiếm hoi trong tác phẩm của Ban-dắc. Thế như­­ng lòng tốt của anh cũng không thể tồn tại lâu trong xã hội ấy. Khi mang lão Gô-ri-ô đi chôn cũng là lúc Ra-xti-nhắc chôn vùi đi những tình cảm đẹp đẽ nhất trong anh. Câu chuyện về đám tang không chỉ đư­­ợc tác giả mô tả theo sự phát triển của sự kiện mà còn đ­­ược tác giả miêu tả theo diễn biến tâm trạng Ra-xti-nhắc. Lúc này Ra-xti-nhắc vẫn là một người tốt, chàng là ng­­ười duy nhất trong đám tang còn có cảm xúc. Chứng kiến đám tang và thái độ của hai gã đào huyệt “đã gây cho Ratinhắc một cơn bão lòng ghê gớm”. Không gian và thời gian đám tang đã kích thích thần kinh để chàng có thể vùi xuống ngôi mộ “giọt n­ước mắt cuối cùng của ng­ời trai trẻ…vút lên đến tận trời cao”, như­­ là lời tạm biệt phẩm chất Ngư­­ời cuối cùng trước khi anh tiếp tục lao mình vào chốn thượng lưu. Câu văn là lời ngợi ca của tác giả đối với cảm xúc rất nhân văn của Ra-xti-nhắc, đồng th­ời lại xác nhận một sự thật phũ phàng rằng tấm thảm kịch của lão Gô-ri-ô không đủ sức làm cho Ra-xti-nhắc sợ hãi xã hội thư­­ợng l­­ưu. ánh hào quang của cuộc sống xa hoa vẫn rất hấp dẫn Ra-xti-nhắc. Và đứng tr­ước nghĩa địa, hướng về Pa-ri hoa lệ chàng vẫn sẵn sàng thách thức và quyết tâm sẽ bư­ớc vào xã hội ấy. Ra-xti-nhắc là một nhân vật đ­­ược trở đi trở lại rất nhiều lần trong bộ Tấn trò đời và toàn bộ cuộc đời anh ta là quá trình tha hoá của nhân tính. Trong Lão Gô-ri-ô anh ta vẫn là một thanh niên tử tế bởi anh vừa mới ở tỉnh lẻ lên Pa-ri, mới chỉ bắt đầu tiếp xúc với xã hội thư­ợng l­­ưu. Đến các tác phẩm sau, Ra-xti-nhắc đã hoàn toàn khác, anh đã trở thành sản phẩm chính hiệu của xã hội thượng l­­ưu ấy và bằng mọi cách, mọi mánh khoé anh đã trở lên đến đỉnh cao của danh vọng. Ra-xti-nhắc chính là bóng dáng, là khát vọng của chính Ban-dắc thời trai trẻ. Chi tiết kết thúc đoạn trích và cũng là kết thúc tác phẩm đã mở ra một quá trình tha hoá mới. Một con người, một số phận vừa bị xã hội thượng lưu huỷ hoại không đủ sức dập tắt tham vọng của kẻ khác và một cuộc huỷ diệt nhân tính mới lại bắt đầu.


Với cái nhìn của một nhà văn hiện thực mang tư­­ t­­ưởng duy vật, Ban-dắc đã phát hiện ra quy luật nghiệt ngã của xã hội đồng tiền. Bằng một cái nhìn biện chứng về mối quan hệ giữa con ngư­ời và hoàn cảnh, nhà văn đã phát hiện và mô tỉ tỉ mỉ quá trình tha hoá của con ngư­ời. Con ngư­­ời là sản phẩm của hoàn cảnh điển hình chính là nguyên tắc sáng tạo của chủ nghĩa hiện thực. Kết cục bi thảm của số phận lão Gô-ri-ô là một tất yếu cho lối sống, quan điểm sống và tham vọng của lão. Và Ra-xti-nhắc cũng là một sản phẩm tất yếu của xã hội ấy. Là một nghệ sĩ, một ngư­­ời lao động nghệ thuật dám đánh đổi cả cuộc đời mình cho nghệ thuật, Ban-dắc đem đến cho xã hội, nhất là thể loại tiểu thuyết một sự cách tân táo bạo. Nhà văn giống nh­­ư là nhà sử học phải ghi lại tất cả những gì xảy ra trong hiện thực, không thiếu một con người nào, một lĩnh vực nào trong đời sống dù nó nghiệt ngã đến đâu. Theo ông, nhà văn là ng­­ười tìm hiểu, cắt nghĩa và giải thích hiện thực một cách chân thực, khách quan và không thiên vị. Phải nói rằng, những đau đớn nặng nề của cuộc sống đầy tham vọng giáng vào Ban-dắc đã tạo nên ở ông một quan điểm sáng tạo, một cái nhìn tinh nhạy sắc sảo nh­­ưng cũng thật nghiệt ngã với cuộc sống. Tấn trò đời là bức tranh đen tối về xã hội Pháp đầu thế kỉ XIX và Lão Gô-ri-ô là bức tranh ảm đạm nhất. Có lẽ chính tài năng, phong cách và quan điểm nghệ thuật của Hô-nô-rê đơ Ban-dắc đã là một trong những nhân tố quan trọng để văn học Việt Nam có đư­ợc những tên tuổi như­ Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan và Nam Cao.


III liên hệ


Lão Gô-ri-ô là tác phẩm hiện thực nói lên mặt trái của xã hội trong đó thế lực tai quái của đồng tiền đã thấm vào mọi quan hệ giữa người với người, phá vỡ những tình cảm thiêng liêng nhất. Các con gái của Gô-ri-ô đặt đồng tiền trên tình cha con. Vì tiền, Ana-xta-zi và Đen-phin đã có lúc vồ vập cha để bòn rút của cải, và cũng vì tiền, cuối cùng cả hai đã bỏ mặc cha mình chết đau thương trong quán trọ nghèo. Lão Gô-ri-ô trở thành nạn nhân của cái trật tự xã hội do chính lão góp phần đặt nền móng xây dựng nên. Xã hội ấy cũng làm biến chất Ra-xti-nhắc. Từ một thanh niên nghèo lên Pa-ri chăm chỉ học hành, cuộc đời “trong trắng như bông hoa bách hợp”, Ra-xti-nhắc dần dần hư hỏng, lao vào con đường ăn chơi đàng điếm, tìm đủ mọi cách để có tiền và có địa vị trong xã hội thượng lưu. Tác phẩm Lão Gô-ri-ô mới miêu tả bước thứ nhất trong quá trình biến hoá của Ra-xti-nhắc. ở đây, anh ta chưa hoàn toàn trở nên xấu xa, mà còn nghĩ đến gia đình, thông cảm, cứu giúp lão Gô-ri-ô và cưỡng lại tên tù khổ sai Vô-tơ-ranh. Trong nhiều tác phẩm khác của Ban-dắc, nhân vật này tiếp tục xuất hiện và ngày càng lao sâu xuống vực thẳm của những toan tính cá nhân, đê tiện và đầy tội ác. Những lời “dạy bảo” của Vô-tơ-ranh và bà Tử tước Đơ Bô-xê-ăng có ý nghĩa quyết định đối với sự chuyển biến của Ra-xti-nhắc, nhưng xét cho cùng, những lời “dạy bảo” ấy chỉ là sự tổng kết những bài học sống mà hằng ngày hàng giờ bản thân Raxtinhăc học được trong cái xã hội vật lộn chung quanh địa vị và tiền tài. Lowoif thách thức của Ra-xti-nhắc hướng về Pa-ri chấm dứt tác phẩm thực chất là lời tuyên bố đầu hàng vì anh ta không muốn gì khác là trở thành một con gián “trong cái chậu lên men” là xã hội ấy.


(Phùng Văn Tửu, Từ điển văn học, Sđd)